Về trang chủ

Phát triển chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản trở thành công cụ xây dựng nông thôn mới bền vững của Việt Nam

Lượt xem: 31
Phát triển chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản trở thành công cụ xây dựng nông thôn mới bền vững của Việt Nam

Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở nông thôn. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cư dân nông thôn là mục tiêu của Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) với định hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn theo kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực để giải phóng và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực với 19 tiêu chí đề ra: 

1) Quy hoạch và thực hiện quy hoạch (trong đó có quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp); 2) Giao thông; 3) Thủy lợi; 4) Điện; 5) Trường học; 6) Cơ sở vật chất văn hóa; 7) Chợ nông thôn; 8) Bưu điện; 9) Nhà ở dân cư; 10) Thu nhập; 11) Hộ nghèo; 12) Cơ cấu lao động; 13) Hình thức tổ chức sản xuất (Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả); 14) Giáo dục; 15) Y tế; 16) Văn hóa; 17) Môi trường; 18) Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh; 19) An ninh, trật tự xã hội được giữ vững.

Đánh giá của Bộ NN-PTNT (tháng 6 năm 2013) cho thấy, chương trình NTM vẫn còn một số hạn chế, cụ thể:

- Mục tiêu 20% số xã đạt chuẩn NTM vào năm 2015 là bài toán khó.

- Tính khả thi của các quy hoạch sản xuất (83,5% số xã có quy hoạch sản xuất nhưng thiếu tính kết nối vùng sản xuất hàng hoá, nặng về xây dựng cơ sở hạ tầng…); Thiếu liên kết giữa sản xuất với tiêu thụ theo cơ chế thị trường.

- Các mô hình sản xuất hàng hóa chủ yếu đang tập trung ở các hộ khá và giàu, sản xuất nhỏ lẻ vẫn phổ biến.

- Các hình thức tổ chức sản xuất vẫn đang tiếp tục được củng cố, kiện toàn và phát triển (tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp, trang trại…)

- Vai trò của người dân tại một số địa phương chưa được phát huy

- Tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững (quản lý chuỗi sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm, bảo vệ lợi ích người tiêu dùng…).

Với mục đích góp phần nhỏ cho thành công của chương trình NTM, bài tham luận này giới thiệu một cách làm được coi là “Chìa khóa phát triển nông thôn”, đã và đang được các nước phát triển trên thế giới cũng như một số địa phương của Việt Nam áp dụng đó là: Xây dựng và phát triển Chỉ dẫn địa lý cho hàng nông sản.  

 

I. Tổng quan về chỉ dẫn địa lý trên thế giới

1. Sơ lược về chỉ dẫn địa lý

Chỉ dẫn địa lý (CDĐL) là những chỉ dẫn về hàng hóa có chất lượng/uy tín hoặc đặc tính nhất định do các điều kiện của khu vực địa lý quyết định (tự nhiên hoặc/và con người). Nói cách khác, CDĐL là việc xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hóa cho các đặc sản có tính vùng miền gắn với tên địa danh của một khu vực địa lý nhất định.

Có nguồn gốc từ Pháp, khởi đầu với 2 nhóm sản phẩm rượu vang và rượu mạnh, CDĐL đã được quốc tế hóa: Công ước Paris (năm 1883), Hiệp định Madrid (năm 1891), Hiệp định Lisbon (năm 1958), Hiệp định TRIPs (năm 1994). Ngày nay, CDĐL mở rộng sang các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cả lĩnh vực dịch vụ (Brazil, Serbia, Cambodia). Ngay cả Mỹ, nước vốn có truyền thống bảo hộ nông sản dưới dạng nhãn hiệu thương mại cũng thúc đẩy việc phát triển CDĐL.

 

2. Cách tiếp cận trong phát triển chỉ dẫn địa lý

Xây dựng và phát triển CDĐL cho sản phẩm là cách tiếp cận tổng hợp và hệ thống, bao gồm: 

  • Xác định và lựa chọn sản phẩm dựa trên hiệu quả kinh tế - xã hội và tác động môi trường.
  • Tiêu chuẩn hóa và minh bạch chất lượng sản phẩm (cảm quan, lý hóa, an toàn thực phẩm) làm cơ sở quản lý và cạnh tranh thị trường.
  • Xác định vùng bảo hộ dựa trên các yếu tố chất lượng đặc thù của sản phẩm, các điều kiện tự nhiên và trình độ của người sản xuất (quy hoạch sản xuất).
  • Xây dựng và vận hành hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm CDĐL (công cụ, chế tài, quy trình sản xuất) với sự tham gia của các thể chế nội bộ (Hội, hiệp hội... những người sản xuất và kinh doanh) và độc lập (tổ chức chuyên nghiệp).
  • Phát triển chuỗi giá trị sản phẩm CDĐL (thị trường, tranh chấp thương mại và chiến lược kinh doanh...)
  • Tái sản xuất mở rộng, bao gồm: tăng thu nhập cho người sản xuất-kinh doanh sản phẩm, bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường...
  • Huy động sự tham gia của nhiều thành phần xã hội: Chính sách công, khoa học, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư khu vực có sản phẩm CDĐL... 

 

3. Vai trò của chỉ dẫn địa lý trên thế giới

  • Công cụ bảo vệ người sản xuất bằng chất lượng đặc thù của sản phẩm, cạnh tranh lành mạnh và chống gian lận thương mại, tạo điều kiện tiếp thị vào nhiều thị trường.
  • Cơ sở để quy hoạch kinh tế - xã hội nông thôn dựa trên việc tăng giá trị gia tăng của sản phẩm, giải quyết đồng bộ năng lực cạnh tranh của 1 ngành hàng.
  • Công cụ phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững kết hợp với du lịch nông thôn (khai thác các sản phẩm/dịch vụ đặc biệt của nông thôn).
  • Cung cấp cho thị trường những sản phẩm an toàn thực phẩm, có chất lượng đặc thù, có nguồn gốc xuất xứ và phương pháp sản xuất riêng. 
  • Công cụ bảo tồn đa dạng sinh học và các kiến thức bản địa (Agridea, 2009).
  • Các sản phẩm CDĐL đặc thù của quốc gia được xây dựng thành di sản của nhân loại (Pháp với sản phẩm rượu vang Bordeaux).

 

II.  Chỉ dẫn địa lý và phát triển nông nghiệp – nông thôn ở Việt Nam

1. Tổng quan về chỉ dẫn địa lý của Việt Nam

Những sản phẩm đặc sản đầu tiên của Việt Nam được bảo hộ CDĐL là nước mắm Phú Quốc và chè shan tuyết Mộc Châu vào năm 2001. Đến nay, cả nước đã có 33 sản phẩm được bảo hộ CDĐL (Cục SHTT, 2011)

Có thể thấy, quá trình xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp, nông thôn của Việt Nam dưới dạng CDĐL còn mới với số lượng hạn chế. Tuy nhiên, một số sản phẩm đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội của các địa phương có sản phẩm và có thể trở thành công cụ hỗ trợ tích cực cho chương trình NTM.

 

2. Chỉ dẫn địa lý và các tiêu chí xây dựng nông thôn mới:

a) Chỉ dẫn địa lý – Công cụ tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo 

Các nước phát triển (Pháp, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha...) sử dụng CDĐL làm phương thức để duy trì và phát triển nông thôn. Nguyên lý của hoạt động này là tạo ra các sản phẩm có chất lượng đặc thù theo vùng miền và phát triển thị trường có giá trị kinh tế cao, khắc với các sản phẩm phổ thông cùng loại. Cách làm này đã được một số địa phương của Việt Nam bước đầu áp dụng thành công.

Sau khi có được CDĐL cho sản phẩm, một số địa phương đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường tiêu thụ. Chính vì vậy, sản phẩm CDĐL ít hoặc không bị ảnh hưởng tiêu cực do biến động bất lợi biến đổi giá nông sản trong và ngoài nước. Điều này giúp ổn định và tăng thu nhập cho người sản xuất. 

Với CDĐL được bảo hộ năm 2001, chè shan tuyết Mộc Châu chuyển dần từ thị trường truyền thống Iraq sang thị trường châu Âu (Anh, Pháp…). Giá chè tăng 2,63 lần (năm 2010). Chè shan tuyết Mộc Châu ít chịu ảnh hưởng bất lợi của ngành hàng chè thế giới. Doanh thu của công ty chè Mộc Châu tăng 4,55 lần (năm 2010) và lương của công nhân chè tăng 3,1 lần so với năm 2001.

Khi có CDĐL (năm 2010) và tăng cường quảng bá, giá hồng không hạt Bắc Cạn đã tăng từ 5.000 – 7.000 đồng/kg lên 25.000 đồng/kg và mang lại thu nhập khá cho đồng bào dân tộc thiểu số 200 triệu đồng/ha.  

Với cách làm có hiệu quả như 2 ví du nêu trên, CDĐL có thể đóng góp tích cực cho 2 tiêu chí Tăng thu nhập và Giảm hộ nghèo - là những tiêu chí quan trọng và cõi lõi trong 19 tiêu chí xây dựng NTM mà hiện nay nhiều địa phương vẫn đang lúng túng tìm giải pháp. 

 

b) Chỉ dẫn địa lý đóng góp phần ổn định xã hội nông thôn

An ninh, trật tự xã hội cũng là một tiêu chí của chương trình NTM. Có thể hiểu rằng nền tảng của tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở giải quyết vấn đề việc làm và lao động trong khu vực nông thôn. 

Phát triển sản xuất và thị trường tiêu thụ các sản phẩm CDĐL để tạo thu nhập và việc làm cho cư dân của vùng bảo hộ được một số nước phát triển như Pháp, Thụy Sỹ, Bồ Đào Nha áp dụng thành công, tạo sự ổn định xã hội nông thôn trước sức ép đô thị hóa, công nghiệp hóa.

Ở Việt Nam, một số địa phương có CDĐL như Bình Thuận (thanh long), Tân Cương (chè shan tuyết), Phú Quốc (nước mắm) đều thu hút một bộ phận lao động quan trọng trong vùng, giúp giảm di dân và góp phần đảm bảo cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương (Lê Thị Thu Hà, 2010). 

- Làng nghề nước mắm của Phú Quốc thu hút trên 100 doanh nghiệp tham gia và tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động.

- Thanh long Bình Thuận tạo việc làm cho gần 200 tổ hợp tác và hơn 4.600 hộ nông dân

- Xã Tô Múa, nơi trồng giống chè Shan tuyết Mộc Châu - cây trồng có hiệu quả nhất. Trước khi có CDĐL, trên 4.000 người dân (chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số) sống bằng cây lúa nương, cây ngô trồng trên đất dốc, năng suất thấp, cây chè chỉ là phụ thêm. Diện tích chè của xã  hiện nay đã tăng từ 144 ha lên 486 ha, sản lượng chè búp từ 20 tấn tăng lên 780 tấn, thu nhập chè từ 8,3 triệu đồng/ha lên 36,6 triệu đồng, thu nhập bình quân từ 145.000/người/tháng lên 800.000 đồng/người/tháng. Ðời sống của người làm chè được nâng cao, không còn hộ đói và nhiều hộ làm giàu từ cây chè…

 

c) Chỉ dẫn địa lý hình thành các tổ chức tập thể của người sản xuất – kinh doanh

Việc hình thành các tổ chức liên kết giữa sản xuất và kinh doanh rất cần thiết trong nông nghiệp, đặc biệt đối với nền sản xuất nông nghiệp nhỏ, manh mún của Việt Nam. Liên kết nhằm phân bổ lợi ích và rủi ro giữa những người tham gia để cùng nhau phát triển. Chính vì vậy, chương trình NTM đặt ra tiêu chí hành động “Hình thức tổ chức sản xuất”: tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.

Để quản lý và khai thác CDĐL, nhiều hình thức tổ chức sản xuất đã được thiết lập dựa trên sản phẩm CDĐL và hoạt động theo mô hình chuỗi sản xuất, thương mại, chế biến và phân phối... 

Hiệp hội gạo tám xoan Hải Hậu thành lập tháng 10/2005 với mục đích khôi phục lại các giống lúa tám truyền thống có chất lượng cao. Hiệp hội phối hợp với các cơ quan chuyên môn xây dựng cơ chế và tổ chức kiểm soát chặt chẽ việc áp dụng quy trình kỹ thuật. Hiệp hội là tổ chức tập thể của 437 hộ xã viên sản xuất quy mô nhỏ, tham gia vào thị trường với khối lượng sản phẩm lớn và ổn định (sản xuất 54 ha theo một quy trình, nông dân và thương mại cùng chia sẻ rủi ro và lợi nhuận). Nhờ đó, gạo tám xoan Hải Hậu đã được khôi phục và có chất lượng đồng nhất khi đưa ra thị trường. Hiệp hội đã chủ động tìm kiếm kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm thông qua các đại lý chính thức tại Hà Nội và một số thị trường khác. 

Hiệp hội vải thiều Thanh Hà xây dựng quy trình kỹ thuật tập thể, tổ chức áp dụng quy chế giám sát chất lượng nội bộ từ sản xuất đến tiêu thụ. Sau khi CDĐL Thanh Hà được bảo hộ, Hiệp hội đã triển khai nhiều hoạt động mở rộng vùng sản xuất, nâng cao sản lượng vải. Sản phẩm đã được xuất khẩu sang CHLB Đức tháng 6/2007 với giá cao hơn từ 30 đến 40% giá vải cùng loại trên thị trường trong nước. Năm 2007, một số công ty đã thu mua lượng vải thiều gấp 8 lần so với năm 2006, góp phần giải quyết khó khăn đầu ra cho vùng vải truyền thống nổi tiếng này.

Hai sản phẩm vải thiều Thanh Hà và gạo tám xoan Hải Hậu có số lượng hạn chế nhưng thành công bước đầu của các tổ chức tập thể này đã khẳng định vai trò liên kết trong sản xuất nông nghiệp.

 

d) Chỉ dẫn địa lý làm cơ sở quy hoạch kinh tế - xã hội nông thôn

Phát triển sản xuất nông nghiệp, nông thôn theo tiếp cận CDĐL chính là việc khai thác các lợi thế sinh học của tiểu vùng sinh thái hoặc các kỹ năng sản xuất (bí quyết) của người dân nông thôn thành sản xuất hàng hóa và giảm sức ép cạnh tranh về thị trường... Có thể nói, cách làm của CDĐL có nét tương đồng với Mỗi làng một sản phẩm (Nhật Bản). Chính vì vậy, nhiều nước trên thế giới đã lấy sản phẩm CDĐL làm cơ sở để quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.

Tại Việt Nam, CDĐL được một số địa phương xác định là cơ sở để xây dựng các quy hoạch sản xuất nông nghiệp và nông thôn. 

Tổng diện tích cây Hồng không hạt của tỉnh Bắc Kạn năm 2005 là 40 ha, thuộc 3 huyện Chợ Đồn, Ba Bể và Ngân Sơn. Sau khi được bảo hộ CDĐL (năm 2010), diện tích hồng đã mở rộng ra 300 ha. Căn cứ vào sự phát triển sản xuất và nhu cầu thị trường hồng không hạt, tỉnh Bắc Kạn xây dựng quy hoạch phát triển cây hồng không hạt trọng điểm với 1.300 ha trong vùng bảo hộ. 

CDĐL góp phần tăng hiệu quả kinh tế của chè shan tuyết Mộc Châu, là cơ sở để tăng quy mô sản xuất từ 570 ha (năm 2001) lên 650 ha (năm 2004) và quy hoạch mở rộng vùng chè nguyên liệu 915 ha năm 2010.

Năm 2004, diện tích thanh long của Bình Thuận là 5.021 ha, tỉnh đã điều chỉnh quy hoạch phát triển thanh long với "hạn mức" đạt 15.000 ha vào năm 2015 làm cơ sở phát triển sản xuất cân đối với nhu cầu thị trường.

 

e) Chỉ dẫn địa lý và việc bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa - xã hội

Giữ gìn và phát huy các bản sắc văn hóa cũng là 1 đích để phấn đấu trong chương trình NTM. 

Một số nước Châu âu như Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ đã kết hợp sản phẩm CDĐL với tổ chức hoặc khôi phục lại các lễ hội truyền thống nông thôn, đồng thời thu hút khách du lịch và quảng bá giới thiệu các sản phẩm đặc sản địa phương. Đây là mô hình kinh tế - văn hóa nông nghiệp, nông thôn nhằm khơi dậy niềm tự hòa của cư dân nông thôn (Nguồn: Hội thảo Quỹ vì sự Tiến bộ của Con người, Hà Nội tháng 9 năm 2008). Hướng đi này cũng đã được một số địa phương của Việt Nam áp dụng hoặc xây dựng chiến lược để thực hiện.

- Danh tiếng của vải Thanh Hà và CDĐL Thanh Hà được nhiều người biến đến hơn khi cây vải tổ và khu trồng vải thiều Thanh Hà trở thành địa điểm tham quan du lịch của địa phương – Điều mà trước khi sản phẩm được bảo hộ CDĐL không có.

Địa phương có cách tiếp cận này rõ nét nhất là tỉnh Thừa Thiên Huế. Ngày 06 tháng 9 năm 2013, UBND tỉnh đã phê duyệt “Chiến lược phát triển thương hiệu các đặc sản tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2020 trên cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng, uy tín và giá trị kinh tế, giá trị văn hóa của đặc sản trên thị trường trong và ngoài nước, gắn kết với hoạt động du lịch...”.

 

Nhận xét:

Như vậy, có thể thấy rằng với cách tiếp cận CDĐL trong chương trình mục tiêu quốc gia NTM, có thể giải quyết được một số chỉ tiêu quan trọng và cỗi lõi như: Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, Cải thiện và tăng thu nhập, Giảm hộ nghèo; Hình thành các tổ chức sản xuất có hiệu quả; Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; Ổn định xã hội nông thôn.

Cách tiếp cận CDĐL đang áp dụng ở Việt Nam chưa thể giải quyết được các nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng của chương trình NTM: Giao thông, Thủy lợi, Điện, Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa, Chợ nông thôn, Bưu điện, Nhà ở dân cư, Cơ cấu lao động, Giáo dục, Y tế, Môi trường, Hệ thống tổ chức chính trị xã hội….

Để phát huy được hết tác dụng tích cực của CDĐL như thành công trên thế giới, CDĐL Việt Nam cần phải giải quyết nhữn hạn chế của mình. 

 

3) Những hạn chế của chỉ dẫn địa lý Việt Nam

- Số lượng CDĐL hạn chế: Việt Nam có trên 500 sản phẩm đặc sản có thể phát triển theo hướng CDĐL (Cục SHTT) nhưng hiện mới có 33 sản phẩm CDĐL.

- Tiếp cận đóng: Việt Nam không áp dụng 1 CDĐL đăng ký cho nhiều sản phẩm như các nước khác trên thê giới (1 CDĐL cho 1 sản phẩm), gây lãng phí tài nguyên địa danh có nhiều đặc sản có thể cùng xây dựng 1 CDĐL để phát triển thị trường.

- Chất lượng CDĐL thấp: 65% số CDĐL dưới dạng sản phẩm thô có hiệu quả kinh tế thấp, các sản phẩm chế biến hoặc tiểu thủ công có hiệu quả hơn lại hạn chế.

- Thiếu cơ sở khoa học và thực tế: Việc chọn sản phẩm xây dựng CDĐL nhiều khi xuất phát từ ý nghĩ chủ quan (danh tiếng của địa phương), không nghiên cứu trước về tiềm năng chất lượng và thị trường, không có sự tham gia của các tác nhân trong chuỗi giá trị.

- Thiếu tầm nhìn chiến lược: Vùng bảo hộ sản phẩm – cơ sở để quy hoạch sản xuất hàng hóa tập trung được xác định theo danh giới hành chính, không căn cứ vào chất lượng sản phẩm và điều kiện sinh thái đặc thù (chuối ngự Đại Hoàng có khu vực địa lý gồm cả phần đất của tỉnh Nam Định nhưng chỉ được bảo hộ trên phần đất tỉnh Hà Nam). 

 

4) Một số đề xuất phát triển chỉ dẫn địa lý để hỗ trợ xây dựng nông thôn mới 

- Hiệu quả của CDĐL chỉ phát huy khi sản phẩm có chất lượng và tiềm năng thị trường. Vì vậy, cần có các nghiên cứu đánh giá khả thi về sản phẩm trước khi có ý định xây dựng CDĐL. (sản phẩm nổi tiếng thuốc lào Tiên Lãng nhưng khó phát triển thị trường…). 

- Mở rộng đối tượng bảo hộ cho 1 địa danh và cho nhiều sản phẩm chế biến từ sản phẩm thô (CDĐThanh Hà dùng cho quả tươi và mở rộng cho vải quả khô vì khối lượng hàng hóa quả khô lớn hơn và giảm tổn thất sau thu hoạch; Hoa hồi Lạng Sơn mở rộng cho dầu hồi; Cà phê nhân Buôn Ma Thuột mở rộng cho cà phê bột sử dụng nguyên liệu cà phê nhân....). 

- CDĐL chỉ được phát huy khi có chủ thể sử dụng thực sự là tổ chức của người sản xuất và kinh doanh cùng hành động tập thể để quản lý và tiếp thị sản phẩm chung dưới logo CDĐL.

- Thành lập các tổ chức chứng nhận CDĐL độc lập không gắn với hệ thống hành chính công để kết hợp nguyên tắc quản lý chất lượng độc lập với nội bộ.

- Thành lập Hội đồng quốc gia về CDĐL để cùng với các địa phương xác định tiềm năng thị trường và chất lượng của sản phẩm sẽ xây dựng CDĐL và quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

- Hỗ trợ xúc tiến thương mại và phát triển thị trường cho các sản phẩm Chỉ dẫn địa lý. Hỗ trợ xây dựng các kênh hàng riêng cho các sản phẩm CDĐL.

- Triển khai các Chương trình truyền thông quốc gia, định hướng tiêu dùng về sản phẩm mang CDĐL gắn với an toàn thực phẩm.

- Tuyên truyền, vận động chính quyền, người sản xuất và các tác nhân trong chuỗi giá trị tại khu vực bảo hộ duy trì chất lượng đặc thù của sản phẩm, tránh mở rộng sản xuất ngoài vùng bảo hộ.

 

5) Kết luận

Nhiều nước trên thế giới đã sử dụng CDĐL làm chìa khóa cho phát triển bền vững nông nghiệp, nông thôn với các bước đi bài bản và hệ thống.

Mới tiếp cận và số lượng còn hạn chế nhưng một số sản phẩm CDĐL được quản lý và khai thác tốt của Việt Nam bước đầu đã minh chứng vai trò tích cực của CDĐL trong giải quyết các vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân thuộc chương trình NTM, cụ thể: Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, Cải thiện và tăng thu nhập, Giảm hộ nghèo; Hình thành các tổ chức sản xuất có hiệu quả; Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa; Ổn định xã hội nông thôn.

Do còn nhiều điểm hạn chế cần khắc phục nên CDĐL chưa thể giải quyết được các nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng trong NTM: Giao thông, Thủy lợi, Điện, Trường học, Cơ sở vật chất văn hóa, Chợ nông thôn, Bưu điện, Nhà ở dân cư, Cơ cấu lao động, Giáo dục, Y tế, Môi trường, Hệ thống tổ chức chính trị xã hội….

Để phát huy được hết tác dụng tích cực của CDĐL Việt Nam, cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

- Hoàn thiện thể chế và chính sách về CDĐL (Thành lập Hội đồng CDĐL ở cấp quốc gia; Cho phép hình thành và vận hành của các Tổ chức chứng nhận CDĐL độc lập để quản lý chất lượng sản phẩm; Chuyển giao chức năng sử dụng CDĐL cho Tổ chức của người sản xuất và kinh doanh sản phẩm CDĐL)

- Thực hiện hệ thống CDĐL mở, 1 địa danh địa lý có thể áp dụng cho nhiều sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu thô mang CDĐL.

- Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và phát triển thị trường riêng cho các sản phẩm CDĐL, đặc biệt là các thị trường cao cấp trong và ngoài nước.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và truyền thông về sản phẩm CDĐL cho người tiêu dùng, chính quyền địa phương và người sản xuất sản phẩm tại vùng CDĐL.

- Xây dựng quy hoạch sản xuất mang tính tổng thể trên cơ sở chất lượng sản phẩm gắn với các điều kiện sinh thái đặc thù.

 

Tác giả: Bùi Kim Đồng, Trịnh Văn Tuấn, Đào Thế Anh [1] 


[1]Trung tâm nghiên cứu và phát triển hệ thống nông nghiệp